Cổ đông sáng lập:

  1. Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
  2. Công ty Điện lực 2.
  3. Công ty Điện lực 3.

Cổ đông góp vốn:

  1. Công ty TNHHMTV Điện lực Đông Nai.
  2. Công ty Thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi – Đa Nhim.
  3. Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực.
  4. CBCNV, người lao động của Công ty Cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ.

Ngành nghề kinh doanh:

  • Sản xuất và kinh doanh điện năng. Đầu tư và quản lý các dự án nguồn điện.
  • Dịch vụ quản lý vận hành, lắp đặt, sửa chữa và bảo dưỡng các Công trình điện, nhà máy điện và trạm biến áp.
  • Dịch vụ tư vấn, quản lý dự án nhà máy điện và trạm biến áp.
  • Dịch vụ thí nghiệm điện, cơ, lý, hóa trong các công trình điện, nhà máy điện và trạm biến áp.
  • Kinh doanh du lịch và các dịch vụ kèm theo.

Bộ máy quản lý Công ty bao gồm:

  • Hội đồng Quản trị.
  • Ban Tổng Giám đốc.
  • Ban Kiểm soát.
  • Ban Quản lý dự án Thủy điện Sông Ba Hạ.
  • Tám (08) Phòng, ban chức năng bao gồm: Văn phòng, Phòng Kế hoạch – Vật tư, Phòng Tổ chức – Lao động, Phòng Kỹ thuật – Sản xuất, Phòng Kế toán – Tài chính, Phòng Dự án, Phân xưởng vận hành, Trung tâm Dịch vụ - Kỹ thuật.
  • Tổng số CBCNV, người lao động trong Công ty là: 136 người.

Hơn 100 người chết mỗi ngày vì thuốc lá

Nhiều nghiên cứu về y học đã kết luận, trong khói thuốc lá, thuốc lào có chứa hơn 4000 loại hoá chất; trong đó, hơn 200 loại có hại cho sức khoẻ, gồm các chất gây nghiện và gây độc.

Tác nhân gây bệnh của thuốc lá đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Hút 01 điếu thuốc tức là đã tự mình đánh mất đi 5,5 phút cuộc sống. Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so với người không hút thuốc từ 05 đến 08 năm. Hút thuốc có thể gây các bệnh ung thư (ung thư phổi), bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, các bệnh tim mạch, bệnh sinh sản… Mức độ tăng nguy cơ bệnh tật phụ thuộc vào tuổi bắt đầu hút (hút thuốc càng sớm thì nguy cơ càng cao), số lượng thuốc hút càng nhiều và thời gian hút càng dài thì nguy cơ bệnh tật càng lớn.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thuốc lá là nguyên nhân chính gây nhiều ca tử vong. Mỗi năm, thuốc lá cướp đi sinh mạng của gần 6 triệu người, trong đó có hơn 5 triệu người hút thuốc trực tiếp và hơn 600 nghìn người hút thuốc thụ động. Số người chết vì thuốc lá trên thế giới nhiều hơn tổng số người chết vì HIV⁄AIDS, lao phổi và sốt rét cộng lại. Theo kết quả điều tra toàn cầu về tình hình hút thuốc lá ở người trưởng thành năm 2010, trong tổng người hút thuốc có 12,8 triệu người sử dụng thuốc lá điếu, 4,1 triệu người hút thuốc lào. 67% người tuy không trực tiếp hút thuốc (khoảng 33 triệu người), nhưng bị tiếp xúc với khói thuốc một cách thụ động tại nhà và 49% người lao động (khoảng 5 triệu người) cho biết, họ bị ảnh hưởng bởi khói thuốc thụ động tại nơi làm việc.

Ở Việt Nam, các bệnh liên quan đến thuốc lá là nguyên nhân gây ra khoảng 40.000 ca tử vong mỗi năm, tức là hơn 100 người chết mỗi ngày. Việt Nam cũng là một trong những nước có tỷ lệ nam giới hút thuốc lá cao nhất thế giới, với 47,4% nam giới trưởng thành. Tuy nhiên, ở nước ta tỷ lệ nữ hút thuốc khá thấp, chỉ chiếm 1,4% số nữ giới trưởng thành. Nếu không tìm được giải pháp hiệu quả, ước tính số người chết do các bệnh liên quan đến thuốc lá sẽ lên đến 70.000 người vào năm 2030.

Vì sao khói thuốc vẫn còn bay?

Năm 2012, Việt Nam đã có Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, quy phạm pháp luật, trong đó có Nghị định số 77/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013, quy định chi tiết thi hành Luật này. Thế nhưng, số người hút thuốc, số người chết vì khói thuốc vẫn không giảm, thậm chí còn tăng thêm. Nguyên nhân:

Một là, do chất gây nghiện, “dễ vào, khó ra” của thuốc lá, thuốc lào. Hiện nay, phần lớn những người hút thuốc ở tuổi trưởng thành đều là nam giới và bắt đầu thử hút thuốc từ tuổi vị thành niên. Khi trưởng thành, nhận thức được tác hại của thuốc lá thì họ đã là con nghiện, lệ thuộc vào thuốc lá, không có đủ bản lĩnh, dũng khí để từ bỏ.

Hai là, luật pháp chưa thực sự nghiêm khắc và được thực thi nghiêm trong việc cấm hút thuốc lá. Các nhà làm luật, một mặt phải bảo vệ lợi ích của quốc gia, lợi ích của người không hút thuốc, mặt khác phải tránh vi phạm nhân quyền của người hút thuốc. Ví dụ, Điều 12 của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà, nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá. Trong thực tế, các phòng họp, hội trường thường thiếu phòng dành riêng cho người hút thuốc, nên người nghiện thuốc thường ra hành lang, ban công, thậm chí ở góc nhà… để hút thuốc.

Ba là, lợi ích kinh tế quá lớn của ngành sản xuất thuốc lá do Nhà nước quản lý, cấp phép kinh doanh. Mặc dù nhiều nhà khoa học đã chỉ ra, chi phí mà Nhà nước phải bỏ ra để khắc phục các căn bệnh do khói thuốc đem lại lớn hơn nhiều so với lợi nhuận từ sản xuất thuốc lá, nhưng các nhà máy thuốc lá quốc doanh vẫn hoạt động. Các ngành thuế, hải quan… cũng có nguồn thu đáng kể từ sản xuất và nhập khẩu thuốc lá. Các khách sạn, quán bar, vũ trường… không muốn cấm hút thuốc vì sợ thất thu.

Bốn là, hút thuốc chưa được đánh giá, quản lý theo tiêu chuẩn đạo đức, văn hóa công vụ và văn hóa – xã hội. Từ sự lệch chuẩn văn hóa, không ít người lại cho rằng hút thuốc là thể hiện “nam tính”, sành điệu, phong cách…

Vì môi trường công sở không khói thuốc

Để xây dựng môi trường làm việc và văn hóa công sở, VHDN không khói thuốc, các doanh nghiệp, tổ chức cần thực hiện được các nội dung sau đây:

1/ Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền về tác hại của việc hút thuốc kết hợp với việc thực hiện nghiêm các quy định xử phạt người hút thuốc tại nơi làm việc, bất kỳ người đó là ai, đảm nhiệm chức vụ gì. Đồng thời, bổ sung quy định, chế tài xử phạt nội bộ, chú ý đến hình thức phạt bằng tiền, như: Trừ lương, tính lũy tiến theo số lần phạm luật, làm cho mọi người không dám vi phạm.

2/ Mọi người trong cơ quan, công sở phải cam kết và gương mẫu thực hiện không hút thuốc, đồng thời vận động gia đình, đồng nghiệp… không hút thuốc hoặc từ bỏ thuốc lá. Những nội dung này cần phải thể hiện bằng văn bản trong xây dựng và quản trị văn hóa doanh nghiệp; trong quy tắc ứng xử, được CBCNV nhất trí thông qua một cách dân chủ và do lãnh đạo cao nhất của tổ chức ký và đóng dấu.

Tuy nhiên, một mục tiêu hay quy định chỉ trở thành văn hóa khi nó có khả năng tạo ra giá trị hạnh phúc và được đại đa số nhân viên thấu hiểu và tự giác thực hiện, dần dần trở thành thói quen, nếp sống tại công sở cũng như gia đình riêng. Làm như vậy, mục tiêu xây dựng môi trường và văn hóa công sở không khói thuốc sẽ trở thành động lực cho chính quá trình này.

Công ty CP Thủy điện Sông Ba Hạ là một trong những đơn vị thành viên của Tổng công ty Phát điện 2, trực tiếp quản lý, điều hành Nhà máy thủy điện sông Ba Hạ. Đây là bậc thang cuối cùng của hệ thống thủy điện trên sông Ba hùng vĩ, chính vì vậy Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, điều hành, nhất là ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, làm cho dung tích nước trong hồ thấp.

Cửa xả nước hồ thủy điện Sông Ba Hạ.

Thế nhưng, qua gần 6 năm nhà máy đi vào hoạt động, Công ty CP Thủy điện Sông Ba Hạ cũng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm để ứng phó với biến đổi khí hậu, trình độ quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật lành nghề ngày một nâng cao, chuyên sâu. Đó là những yếu tố cần và đủ để cho Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ có công suất tương đối lớn với hai tổ máy liên tục hoạt động. Riêng 9 tháng đầu năm 2015, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, khó lường, khô hạn kéo dài, ảnh hưởng của hiện tượng El Nino trên diện rộng, lại không có lũ tiểu mãn về như mọi năm nên mực nước hồ chứa ở gần mực nước chết, công suất thiết bị nhà máy giảm (lưu lượng trung bình 67,34m3/s, chỉ đạt 60% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, để hoàn thành tốt nhiệm vụ SXKD năm 2015, Công ty đã đề ra các giải pháp: Tăng cường quản lý vận hành tốt hai tổ máy, thực hiện tốt công tác sửa chữa, bảo dưỡng các hệ thống thiết bị, công trình… đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

Nhờ những cố gắng ấy, Công ty CP thủy điện Sông Ba Hạ cũng đã thực hiện được sản lượng điện phát trong 9 tháng là 206,36 triệu kWh/620 triệu kWh, mới chỉ đạt 33,28% so với kế hoạch 2015. “Bên cạnh đó, chúng tôi luôn đảm bảo nhiệm vụ chính trị tại địa phương là phục vụ chống hạn và cung cấp nước sinh hoạt cho hạ du”, ông Tuần bộc bạch. Ông còn cho biết: Tổn thất điện năng tự dùng và từ máy biến áp 2,766 triệu kWh (bằng 1,34% sản lượng điện phát) là mức tiêu hao lớn so với kế hoạch của Công ty, do sản lượng điện sản xuất thấp, lại phải đảm bảo giữ nước phục vụ chống hạn cho hạ du. Chỉ tiêu này, chúng tôi sẽ phấn đấu giảm trong các tháng cuối năm, khi lượng nước đầu nguồn về thuận lợi cho việc phát điện hơn.

Tuy mực nước lòng hồ hiện rất thấp, nhưng Công ty luôn sẵn sàng cho công tác PCLB cuối năm. Trước khi bước vào mùa mưa lũ, Công ty đã có kế hoạch duy tu bảo dưỡng, sửa chữa đường giao thông vận hành, hệ thống thoát nước và công trình hồ, đập; xây dựng hệ thống cột mốc báo lũ vùng ngập chung cho hạ du sông Ba. Riêng khu vực nhà máy, đơn vị xử lý nước thấm dột, nước leo vào bên trong. Trong suốt mùa mưa, Công ty thực hiện chế độ trực báo cáo 24/24 giờ cho các cấp, đồng thời vận hành hồ chứa theo đúng quy định của quy trình vận hành liên hồ do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Tất cả vật tư, nhiên liệu… đều đảm bảo cung ứng tại chỗ cho công tác PCTT&TKCN, đồng thời tranh thủ nguồn nước về để tích, khai thác có hiệu quả.

Mênh mông mặt hồ thủy điện Sông Ba Hạ.

So với kế hoạch năm 2015, sản lượng điện còn lại trong quý IV là rất lớn, trong khi đó Công ty còn phải tích nước hồ chứa theo quy trình vận hành liên hồ chứa, nên sản lượng điện của tháng 12 cũng rất thấp. Từ những yếu tố bất khả kháng do thời tiết, theo tính toán thực tế và kinh nghiệm vận hành nhiều năm, Công ty phấn đấu đạt sản lượng điện phát trong quý IV là 285 triệu kWh, đưa sản lượng điện cả năm đạt 490 triệu kWh.

Để đạt được mục tiêu trên, Công ty CP Thủy điện Sông Ba Hạ đã có những giải pháp cho việc tổ chức thực hiện. Thứ nhất, tăng cường quản lý vận hành, quản lý kỹ thuật, đảm bảo vận hành phát điện ổn định, liên tục, an toàn 02 tổ máy theo đúng phương thức vận hành của Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia. Thứ hai, đảm bảo thực hiện tốt 08 chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, tăng thời gian khả dụng của các tổ máy; Thực hiện tốt công tác sửa chữa thường xuyên các hệ thống thiết bị phụ trợ và giữ vệ sinh môi trường theo đúng quy định. Thứ ba, nâng cao khả năng dự báo, triển khai các biện pháp nhằm phát hiện kịp thời các nguy cơ sự cố, thực hiện các biện pháp ngăn ngừa để giảm số lần sự cố và khắc phục kịp thời các sự cố tiềm ẩn… nhằm đảm bảo vận hành an toàn, hiệu quả Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ.

Tất cả những điều đó đều đi đến mục tiêu tham gia thị trường phát điện cạnh tranh. Hiện, Công ty đang nghiên cứu, tính toán chiến lược chào giá bán điện hợp lý để được thị trường huy động sản xuất, vừa làm tròn nhiệm vụ sản xuất kinh doanh để đạt doanh thu cao, vừa làm tròn nhiệm vụ chính trị tại địa phương là tham gia cắt lũ, chống hạn vùng hạ du.

Trúc Hiền

Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên nước từ hồ chứa

Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ. (Nguồn: Ngọc Hà/TTXVN)

Trên thực tế, các nhà máy thủy điện trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý đang phối hợp với chính quyền địa phương vùng hạ du sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước từ các hồ chứa, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp điện vừa đảm bảo nhiệm vụ chính trị là cấp nước sinh hoạt và nước phục vụ chống hạn cho ngành nông nghiệp trong mùa khô.

Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ, ông Đặng Văn Tuần cho biết, Công ty thường xuyên làm việc với Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Hòa, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các huyện để tận dụng, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước.

Ngay trong vụ Đông Xuân này và sắp tới là vụ Hè Thu, trước khi vận hành chạy máy phát điện cấp nước, Công ty thông báo với các Trạm bơm ở huyện Sơn Hòa để chủ động thời gian bơm cấp nước cho đồng ruộng hiệu quả, tiết kiệm tận dụng tối đa nguồn nước, tránh lãng phí.

Công ty cũng thường xuyên liên lạc và làm việc với các Hợp tác xã ở hạ du sông Ba để tìm hiểu rõ từng giai đoạn quá trình phát triển của cây lúa từ đó có lịch cấp tưới tiêu phù hợp, đồng thời cung cấp nước đảm bảo kịp thời khi cây lúa sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn đầu trỗ bông cần nước nhiều để tăng năng suất của lúa.

Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ còn tăng cường phối hợp với nhà máy thủy điện Sông Hinh để việc cung cấp nước được thuận lợi và tăng hiệu quả chống hạn.

Ngay từ đầu tháng 12 hàng năm, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp đã làm việc với các địa phương liên quan, đại diện là các Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện để xác định về nhu cầu sử dụng nước phục vụ nông nghiệp trong các tháng mùa kiệt.

Sau đó, Công ty trình kế hoạch khai thác hồ chứa vào các tháng mùa kiệt đến Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban Nhân dân các huyện/thành phố thuộc 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông để theo dõi chỉ đạo và phối hợp thực hiện nhằm khai thác các hồ sao cho hiệu quả cao nhất.

Trong quá trình vận hành hàng ngày, khi trên lưới điện Quốc gia có những thay đổi ảnh hưởng đến chế độ vận hành của các nhà máy, làm lượng xả ra hạ du từ các hồ không đạt theo quy định, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp cũng đã thông báo kịp thời đến các bên liên quan để sớm có kế hoạch phù hợp trong việc tưới tiêu, canh tác nông nghiệp.

Nhờ vậy, từ năm 2009 đến nay, các hồ thủy điện do công ty quản lý luôn đảm bảo cung cấp đủ nước tưới tiêu nông nghiệp vào các tháng mùa kiệt cho các vùng hạ du hồ.

Ông Nguyễn Tấn Triết, Phó Giám đốc Công ty cho hay, để tạo thuận lợi cho nhân dân và các trạm bơm thuỷ lợi trong việc bơm nước tưới tiêu, Công ty đã chế tạo và lắp đặt Hệ thống cảnh báo xa dọc hạ lưu hồ để thông báo thời gian xả nước, để nhân dân trong vùng và các Trạm bơm ​thủy lợi chủ động trong việc bơm nước.

Bên cạnh đó, Công ty thiết lập số điện thoại nóng (0500 2480 412) tại Phòng điều khiển trung tâm nhà máy thủy điện Buôn Tua Srah để tiếp nhận 24/24 giờ mọi sự yêu cầu của nhân dân địa phương.

Hồ Buôn Tua Sah cung cấp nước chủ yếu phục vụ canh tác nông nghiệp cho xã Ea R’Bin huyện Lắk (Đắk Lắk) , một số xã thuộc huyện Krông Ana và huyện Krông Nô (Đắk Nông). Dọc hạ du hồ Buôn Kuốp, Srêpôk 3 đặc thù đồi núi đá có độ dốc cao nên canh tác nông nghiệp bị hạn chế.

Như vậy, việc khai thác hồ Buôn Tua Sah đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên sông Srêpôk.

Theo kế hoạch xả nước hồ chứa Buôn Tua Srah phục vụ tưới tiêu vụ Đông Xuân 2015-2016 và vụ Hè Thu 2016 đã được Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Nô, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp và Chi nhánh Công ty Thủy nông huyện Krông Nô thống nhất, từ ngày 1-14/12/2015, chế độ xả hồ Buôn Tua Srah là ngày xả-ngày nghỉ để tiếp tục tích nước hồ, thời gian xả từ 10-12 giờ/ngày, xả từ 6 giờ sáng hàng ngày với lưu lượng xả khoảng 70m3/s; từ ngày 15/12/2015-30/4/2016, chế độ xả là hàng ngày, thời gian xả từ 12-14 giờ/ngày và lưu lượng xả khoảng 90m3/s.

Trong quá trình khai thác hồ mà chưa đáp ứng đủ nước phục vụ tưới tiêu cho hạ du thì Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Nô sẽ đề nghị Công ty Thủy điện Buôn Kuốp điều chỉnh chế độ xả hồ này phù hợp với nhu cầu sử dụng nước khu vực hạ du hồ.

Đại Lộc là huyện hạ du của Quảng Nam có 10/18 xã sử dụng nước ở hệ thống sông Vũ Gia, còn 8 xã còn lại sử dụng nước của hồ chứa thủy lợi Khe Tăng. Ông Trần Quốc Khánh, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đại Lộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam cho biết, từ có sự phối hợp với tỉnh và nhà máy thủy điện A Vương, việc cung cấp và sử dụng nước trên địa bàn huyện được đảm bảo.

“Công ty thực hiện chế độ dự báo thông số hồ 10 ngày/lần, từ đó hiệu chỉnh lưu lượng xả phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn cụ thể, nhằm khai thác hiệu quả các nguồn nước từ các hồ chứa. Do vậy các nhà máy thủy điện trên hệ thống sông Vũ Gia hiện cung cấp nước ổn định cho vụ Đông Xuân này,” Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Đại Lộc nhận xét.

Từ đầu tháng 3 đến nay, lưu lượng về hồ Sê San 4 bình quân là 107 m3 /s, lưu lượng xả về hạ du qua các tổ máy để sản xuất điện năng là 102 m 3 /s, sản lượng điện sản xuất là 9,56 triệu kWh. Riêng ngày 9/3, mực nước hồ thủy điện Pleikrông là 564,43m, tương ứng với dung tích nước có khả năng xả về hạ du là 685,17 triệu m3. Mực nước hồ thủy điện Ialy là 498,74m, tương ứng với dung tích nước có khả năng xả về hạ du là 173,74 triệu m3.

Phó Giám đốc Công ty Phát triển Thủy điện Sê San, ông Nguyễn Đăng Hà cho rằng hiện nay, hồ Sê San 4 vận hành được nhờ lượng nước xả từ hồ chứa thủy điện Pleikrông và Ialy xả về. Trong khi lưu lượng nước xả về hạ du từ dung tích các hồ hiện đang có đến cuối mùa kiệt, theo tính toán trung bình là 86m 3/s.

Như vậy, lưu lượng xả về hạ du từ nay cho đến cuối mùa bao gồm lưu lượng tự nhiên sông Sê San và lưu lượng xả từ các hồ dự trữ hiện có khoảng từ 90-195m 3/s.

Trên thực tế, các nhà máy thủy điện trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý đang phối hợp với chính quyền địa phương vùng hạ du sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước từ các hồ chứa, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp điện vừa đảm bảo nhiệm vụ chính trị là cấp nước sinh hoạt và nước phục vụ chống hạn cho ngành nông nghiệp trong mùa khô.

Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ, ông Đặng Văn Tuần cho biết, Công ty thường xuyên làm việc với Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Hòa, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các huyện để tận dụng, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước.

Ngay trong vụ Đông Xuân này và sắp tới là vụ Hè Thu, trước khi vận hành chạy máy phát điện cấp nước, Công ty thông báo với các Trạm bơm ở huyện Sơn Hòa để chủ động thời gian bơm cấp nước cho đồng ruộng hiệu quả, tiết kiệm tận dụng tối đa nguồn nước, tránh lãng phí.

Công ty cũng thường xuyên liên lạc và làm việc với các Hợp tác xã ở hạ du sông Ba để tìm hiểu rõ từng giai đoạn quá trình phát triển của cây lúa từ đó có lịch cấp tưới tiêu phù hợp, đồng thời cung cấp nước đảm bảo kịp thời khi cây lúa sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn đầu trỗ bông cần nước nhiều để tăng năng suất của lúa.

Công ty cổ phần Thủy điện Sông Ba Hạ còn tăng cường phối hợp với nhà máy thủy điện Sông Hinh để việc cung cấp nước được thuận lợi và tăng hiệu quả chống hạn.

Ngay từ đầu tháng 12 hàng năm, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp đã làm việc với các địa phương liên quan, đại diện là các Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện để xác định về nhu cầu sử dụng nước phục vụ nông nghiệp trong các tháng mùa kiệt.

Sau đó, Công ty trình kế hoạch khai thác hồ chứa vào các tháng mùa kiệt đến Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban Nhân dân các huyện/thành phố thuộc 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông để theo dõi chỉ đạo và phối hợp thực hiện nhằm khai thác các hồ sao cho hiệu quả cao nhất.

Trong quá trình vận hành hàng ngày, khi trên lưới điện Quốc gia có những thay đổi ảnh hưởng đến chế độ vận hành của các nhà máy, làm lượng xả ra hạ du từ các hồ không đạt theo quy định, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp cũng đã thông báo kịp thời đến các bên liên quan để sớm có kế hoạch phù hợp trong việc tưới tiêu, canh tác nông nghiệp.

Nhờ vậy, từ năm 2009 đến nay, các hồ thủy điện do công ty quản lý luôn đảm bảo cung cấp đủ nước tưới tiêu nông nghiệp vào các tháng mùa kiệt cho các vùng hạ du hồ.

Ông Nguyễn Tấn Triết, Phó Giám đốc Công ty cho hay, để tạo thuận lợi cho nhân dân và các trạm bơm thuỷ lợi trong việc bơm nước tưới tiêu, Công ty đã chế tạo và lắp đặt Hệ thống cảnh báo xa dọc hạ lưu hồ để thông báo thời gian xả nước, để nhân dân trong vùng và các Trạm bơm ​thủy lợi chủ động trong việc bơm nước.

Bên cạnh đó, Công ty thiết lập số điện thoại nóng (0500 2480 412) tại Phòng điều khiển trung tâm nhà máy thủy điện Buôn Tua Srah để tiếp nhận 24/24 giờ mọi sự yêu cầu của nhân dân địa phương.

Hồ Buôn Tua Sah cung cấp nước chủ yếu phục vụ canh tác nông nghiệp cho xã Ea R’Bin huyện Lắk (Đắk Lắk) , một số xã thuộc huyện Krông Ana và huyện Krông Nô (Đắk Nông). Dọc hạ du hồ Buôn Kuốp, Srêpôk 3 đặc thù đồi núi đá có độ dốc cao nên canh tác nông nghiệp bị hạn chế.

Như vậy, việc khai thác hồ Buôn Tua Sah đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên sông Srêpôk.

Theo kế hoạch xả nước hồ chứa Buôn Tua Srah phục vụ tưới tiêu vụ Đông Xuân 2015-2016 và vụ Hè Thu 2016 đã được Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Nô, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp và Chi nhánh Công ty Thủy nông huyện Krông Nô thống nhất, từ ngày 1-14/12/2015, chế độ xả hồ Buôn Tua Srah là ngày xả-ngày nghỉ để tiếp tục tích nước hồ, thời gian xả từ 10-12 giờ/ngày, xả từ 6 giờ sáng hàng ngày với lưu lượng xả khoảng 70m3/s; từ ngày 15/12/2015-30/4/2016, chế độ xả là hàng ngày, thời gian xả từ 12-14 giờ/ngày và lưu lượng xả khoảng 90m3/s.

Trong quá trình khai thác hồ mà chưa đáp ứng đủ nước phục vụ tưới tiêu cho hạ du thì Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Nô sẽ đề nghị Công ty Thủy điện Buôn Kuốp điều chỉnh chế độ xả hồ này phù hợp với nhu cầu sử dụng nước khu vực hạ du hồ.

Đại Lộc là huyện hạ du của Quảng Nam có 10/18 xã sử dụng nước ở hệ thống sông Vũ Gia, còn 8 xã còn lại sử dụng nước của hồ chứa thủy lợi Khe Tăng. Ông Trần Quốc Khánh, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đại Lộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam cho biết, từ có sự phối hợp với tỉnh và nhà máy thủy điện A Vương, việc cung cấp và sử dụng nước trên địa bàn huyện được đảm bảo.

“Công ty thực hiện chế độ dự báo thông số hồ 10 ngày/lần, từ đó hiệu chỉnh lưu lượng xả phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn cụ thể, nhằm khai thác hiệu quả các nguồn nước từ các hồ chứa. Do vậy các nhà máy thủy điện trên hệ thống sông Vũ Gia hiện cung cấp nước ổn định cho vụ Đông Xuân này,” Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Đại Lộc nhận xét.

Từ đầu tháng 3 đến nay, lưu lượng về hồ Sê San 4 bình quân là 107 m3 /s, lưu lượng xả về hạ du qua các tổ máy để sản xuất điện năng là 102 m 3 /s, sản lượng điện sản xuất là 9,56 triệu kWh. Riêng ngày 9/3, mực nước hồ thủy điện Pleikrông là 564,43m, tương ứng với dung tích nước có khả năng xả về hạ du là 685,17 triệu m3. Mực nước hồ thủy điện Ialy là 498,74m, tương ứng với dung tích nước có khả năng xả về hạ du là 173,74 triệu m3.

Phó Giám đốc Công ty Phát triển Thủy điện Sê San, ông Nguyễn Đăng Hà cho rằng hiện nay, hồ Sê San 4 vận hành được nhờ lượng nước xả từ hồ chứa thủy điện Pleikrông và Ialy xả về. Trong khi lưu lượng nước xả về hạ du từ dung tích các hồ hiện đang có đến cuối mùa kiệt, theo tính toán trung bình là 86m 3/s.

Như vậy, lưu lượng xả về hạ du từ nay cho đến cuối mùa bao gồm lưu lượng tự nhiên sông Sê San và lưu lượng xả từ các hồ dự trữ hiện có khoảng từ 90-195m 3/s.

V: Tháng Tri ân khách hàng năm 2017 được EVN tổ chức với thông điệp “Chuyên nghiệp - Thân thiện”. Ông có thể cho biết rõ hơn về mục đích, ý nghĩa của thông điệp này?

Ông Nguyễn Quốc Dũng: Từ năm 2015 đến nay, Tháng Tri ân khách hàng là chương trình được Tập đoàn Điện lực Việt Nam tổ chức thường niên.

Ông Nguyễn Quốc Dũng

Đây là hoạt động quan trọng, thể hiện tính vì cộng đồng và thực sự quan tâm tới khách hàng sử dụng điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Thông qua sự kiện này, hy vọng, khách hàng sẽ gắn bó hơn và hiểu rõ ngành Điện hơn, từ đó tạo niềm tin và sự đồng thuận của xã hội đối với EVN.

Thông điệp “Chuyên nghiệp – Thân thiện” có nhiều ý nghĩa: EVN là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động một cách chuyên nghiệp. Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khách hàng, các đơn vị luôn tuân thủ nghiêm các quy định trong bộ Quy trình kinh doanh điện năng, quy định về cung cấp các dịch vụ điện đang áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam; thể hiện sự ứng xử thân thiện với các khách hàng, đối tác, theo bộ Quy tắc ứng xử trong văn hóa doanh nghiệp của EVN.

Thông điệp còn bao hàm ý nghĩa: EVN luôn có trách nhiệm đối với xã hội, với khách hàng và tích cực đóng góp vào sự phát triển cộng đồng.

Tập đoàn đặt ra mục tiêu của Tháng Tri ân khách hàng là thực hiện tốt nhất có thể các dịch vụ về điện, giảm thời gian cắt điện, xử lý sự cố nhanh nhất, đáp ứng các nhu cầu về điện cho khách hàng. Có thể nói, nâng cao chất lượng phục vụ là cách tốt nhất để EVN tri ân khách hàng. Các đơn vị điện lực cũng sẽ thực hiện nhiều hoạt động vì cộng đồng cũng như các chương trình tri ân thiết thực khác.

PV: Những giải pháp của EVN để triển khai các hoạt động tri ân khách hàng một cách thiết thực, hiệu quả sâu rộng là gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Quốc Dũng: Ngay từ đầu, EVN đã quán triệt, chỉ đạo, hướng dẫn sát sao tới từng đơn vị về hình thức, thời gian, quy mô tổ chức các hoạt động, sao cho đồng bộ, thống nhất, thể hiện được nội dung thông điệp, ý nghĩa của Tháng Tri ân khách hàng.

Là năm thứ 3 tổ chức các hoạt động tri ân, các đơn vị trong Tập đoàn đã có những kinh nghiệm nhất định. Ngoài chương trình chung của Tập đoàn, tùy theo tình hình thực tế, các đơn vị có thể tổ chức các chương trình riêng như: Tặng quà khi đăng ký cấp điện trực tuyến, quay số trúng thưởng dành cho khách hàng thanh toán tiền điện qua ngân hàng,…

Với chương trình Thắp sáng đường quê, Thắp sáng niềm tin - sửa chữa và lắp đặt điện miễn phí cho các hộ gia đình nghèo và gia đình chính sách,… các tổng công ty điện lực/công ty điện lực đều kết hợp với chính quyền địa phương để hỗ trợ đúng đối tượng và hiệu quả. 107 công ty điện lực đồng loạt triển khai tổ chức chương trình tại tại 63 tỉnh, thành, đã và đang tạo hiệu ứng lan tỏa rộng khắp trong xã hội. Và thực tế, qua 2 năm đã tổ chức, Tháng Tri ân khách hàng của EVN đã nhận được sự ủng hộ, hưởng ứng rất nhiệt tình của cộng đồng xã hội.

Điểm quan trọng nhất trong Tháng Tri ân năm nay là Lễ công bố Cung cấp 100% dịch vụ điện trực tuyến. Sự kiện quan trọng này đánh dấu bước chuyển mạnh trong kinh doanh và dịch vụ điện năng, thể hiện sự sáng tạo và nhạy bén của EVN trong việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, tạo niềm tin trong khách hàng về một Tập đoàn kinh tế nhà nước hướng tới sự chuyên nghiệp, hiện đại, thân thiện. Đây cũng là xu hướng tất yếu trong thời đại công nghệ số, phù hợp với chủ trương của Chính phủ về hiện đại hóa các dịch vụ công, xây dựng nền kinh tế số.

PV: Có ý kiến cho rằng, EVN tổ chức các hoạt động tri ân khách hàng chỉ trong 1 tháng là chưa đủ. Ý kiến của ông về vấn đề này?

Ông Nguyễn Quốc Dũng: Cần nhấn mạnh rằng, Tháng Tri ân khách hàng là chương trình được EVN tổ chức nhằm tạo điểm nhấn trong năm, còn các hoạt động thể hiện sự tri ân khách hàng được các đơn vị trong toàn Tập đoàn thực hiện thường xuyên, liên tục trong suốt cả năm, chứ không chỉ trong 1 tháng.

Với quan điểm nâng cao chất lượng dịch vụ điện năng chính là cách tri ân khách hàng tốt nhất, năm 2017, Tập đoàn đã nỗ lực cải thiện chỉ số tin cậy cung ứng điện, đáp ứng đủ điện với chất lượng ổn định, an toàn, liên tục. Minh chứng rõ ràng nhất là theo đánh giá của Tổ chức Doing Bussiness của Ngân hàng Thế giới, yếu tố “Độ tin cậy cung cấp điện và minh bạch về giá điện” đã tăng tới 3 điểm (thang điểm 8) so với năm trước, đưa chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam tăng 32 bậc, lên vị trí 64/190 quốc gia.

Bên cạnh đó, các dịch vụ ngành Điện như: Thanh toán tiền điện, tra cứu thông tin,… cũng liên tục được đổi mới, với nhiều phương thức, đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng của khách hàng. 

Từ các khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tới các khảo sát do đơn vị tư vấn độc lập thực hiện, đều cho chung 1 kết quả: Khách hàng ngày càng hài lòng với dịch vụ điện năng của EVN. Như vậy, có thể thấy rằng, để đạt được kết quả đó, là cả một quá trình nỗ lực của EVN và được khách hàng ghi nhận, chứ không phải chỉ trong 1 tháng tổ chức các hoạt động tri ân khách hàng mà có được.

PV: Xin cám ơn ông! 

Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng (thứ 2, từ trái sang) và Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải (thứ 2, từ phải sang) theo dõi đường đi của bão Tembin trong chương trình công tác kiểm tra ứng phó với bão tại tỉnh Bạc Liêu sáng 25/12 - Ảnh: Xuân Tiến

Theo bản tin phát lúc 14h30 ngày 25/12 của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, bão số 16 tiếp tục có xu hướng yếu dần, hoàn lưu bão đang gây mưa cho các tỉnh Nam Bộ, một số nơi đã có gió giật mạnh cấp 6-7. 

Lúc 13 giờ hôm nay, vị trí tâm bão ở vào khoảng 8,2 độ Vĩ Bắc; 108,8 độ Kinh Đông, cách Côn Đảo khoảng 240 km về phía Đông. Sức gió mạnh nhất ở vùng gần tâm bão mạnh cấp 10 (90 -100 km/giờ), giật cấp 13. 

Do ảnh hưởng của bão số 16, ở Nam Bộ tiếp tục có mưa to. Từ đêm nay, ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Trung Trung Bộ có mưa to đến rất to và có khả năng kéo dài 2-3 ngày. 

Tại Cà Mau, ông Thiều Văn Minh - Phó Giám đốc Công ty Điện lực Cà Mau cho biết: Cà Mau vốn có 3 mặt giáp biển, cùng với đặc thù lưới điện đi qua nhiều kênh rạch, vuông tôm, nền đất yếu nên sẽ gặp nhiều khó khăn nếu bão đổ bộ. Vì vậy, Công ty đã bố trí lực lượng đi kiểm tra, củng cố lưới điện tại các điểm xung yếu; phối hợp với địa phương thực hiện phát quang hành lang tuyến để ngăn ngừa tối đa các sự cố khi bão đổ bộ; lên kế hoạch ứng trực 24/24h; bố trí đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng với phương châm “4 tại chỗ”, sẵn sàng xử lý các sự cố khi có thiệt hại.

Hướng đi của bão Tembin theo dự báo của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, bản tin phát lúc 14h30 ngày 25/12

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, ông Nguyễn Văn Giáp - Giám đốc Công ty Điện lực Bà Rịa – Vũng Tàu cho biết: Mọi công tác ứng phó với bão số 16 cũng đã được Công ty sẵn sàng theo phương án “4 tại chỗ”. Đơn vị cũng có phương án chống ngập, đảm bảo an toàn cho người và thiết bị ở những khu vực có nguy cơ cao, điển hình như: Điện lực Đất Đỏ di dời và thực hiện các phương án chống ngập úng đối với Đội quản lý vận hành tổng hợp Phước Hải; Điện lực Côn Đảo đã kiểm tra rà soát các vị trí công tơ có khả năng bị ngập úng, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công nhân.

Trước đó, Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) đã cử 2 đoàn công tác xuống các địa phương được dự báo nằm trong vùng ảnh hưởng của bão Tembin để trực tiếp kiểm tra và chỉ đạo ứng phó. Từ ngày 22/12, Tổng công ty đã thực hiện chế độ trực 24/24h; đồng thời, yêu cầu các đơn vị sẵn sàng về nhân lực, phương tiện, chỉ huy tại chỗ; các công ty điện lực làm việc với đơn vị xây lắp và đơn vị cung cấp vật tư thiết bị để kịp thời khắc phục lưới điện sau bão.

“Trong trường hợp thiên tai gây sự cố trên diện rộng, Tổng công ty cũng sẽ điều động linh hoạt nhân lực, phương tiện của các đơn vị trực thuộc đến hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo khắc phục sự cố trong thời gian nhanh nhất”, ông Hồ Quang Ái – Phó Tổng giám đốc EVNSPC cho biết.

Hiện, Phó Tổng giám đốc Ngô Sơn Hải và đoàn công tác của EVN cũng đang có mặt tại các tỉnh Nam bộ để chỉ đạo các điện lực triển khai công tác phòng chống thiên tai. 

Khen thưởng là một nhu cầu khách quan của nguồn nhân lực

Từ góc độ quản trị nguồn nhân lực, khen thưởng là một hình thức động viên, tạo động lực làm việc cho cấp dưới. Lý thuyết về Hai yếu tố động viên của F. Herzberg (1959) đã chia  các nhu cầu của nhân sự làm 2 loại yếu tố: Loại 1 là các yếu tố động viên, khuyến khích mạnh tới hành vi, hoạt động như: Cảm giác về thành công trong công việc; cơ hội được cấp trên ghi nhận, khen thưởng, tôn vinh; vinh dự, tự hào từ thành công trong công việc đem lại; sự thách thức, đòi hỏi sự phấn đấu thăng tiến và viễn cảnh nghề nghiệp.

Ảnh minh họa

Loại 2 là các yếu tố lành mạnh, có tác động duy trì động lực lao động như chính sách và chế độ quản lý của công ty; lương bổng và phúc lợi; việc kiểm tra, đánh giá nhân sự; mối quan hệ với đồng nghiệp; sự an toàn, ổn định trong công việc; điều kiện làm việc; cuộc sống cá nhân, gia đình; địa vị - chức danh. Các yếu tố này không tác động mạnh tới động lực của người làm nhưng lại ngăn cản họ bất mãn với công việc và tìm cách “nhảy việc”.

Như vậy, muốn tạo động lực, khuyến khích nhân viên làm việc lâu dài thì lãnh đạo cần chú ý giải quyết cả hai loại nhu cầu này, trong đó các yếu tố khen thưởng có tác dụng kích thích trực tiếp có tính động hơn, cần tác động thường xuyên hơn.

Lý thuyết Kim tự tháp nhu cầu của Abraham H. Maslow (1954), bao gồm 5 tầng bậc nhu cầu của nhân sự xếp từ thấp đến cao: (1) nhu cầu sinh lý, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu được tôn trọng, (5) nhu cầu tự khẳng định, sáng tạo. Nguyên lý hoạt động của hệ thống này là khi một loại nhu cầu được giải quyết và thỏa mãn thì nó không còn vai trò làm động lực thúc đẩy người làm nữa mà bị thay thế bởi nhu cầu bậc trên gần nhất. Như vậy, chế độ tiền lương, bảo hiểm, phúc lợi có tác dụng hiệu quả nhất đối với những người đang phải giải quyết các nhu cầu bậc thấp. Hình thức khen thưởng có tác dụng hiệu quả cao đối với những người đang có các nhu cầu bậc cao, nhất là nhu cầu được sáng tạo, tự khẳng định mình và thăng tiến về công danh.

Các nguyên tắc của văn hóa khen thưởng

Chế độ khen thưởng ở nước ta hiện nay chia làm 3 cấp độ chính đi từ dưới lên trên: (1) Cấp tổ chức, doanh nghiệp, (2) cấp tỉnh - thành phố, bộ - ngành, (3) cấp trung ương - quốc gia. Trong các tổ chức lớn như EVN thì cũng có tới 4 cấp độ: Đơn vị cơ sở, công ty, tổng công ty, Tập đoàn. Bên cạnh đó, chúng ta còn có sự ảnh hưởng bởi hệ thống giải thưởng và danh hiệu của các tổ chức, các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực và thế giới. Vì vậy, nếu không triển khai nghiêm túc và chọn lọc kỹ, thì công tác khen thưởng, tôn vinh dễ trở thành một hoạt động hình thức, kém hiệu quả… Khi chúng ta nói “Văn hóa khen thưởng” có nghĩa là công việc, hoạt động này phải đảm bảo các tiêu chuẩn chân – thiện – mỹ và được các tổ chức, cả xã hội coi trọng và thực hiện một cách bền vững, tạo ra được niềm vui, động lực làm việc của người lao động. Các nguyên tắc cơ bản của khen thưởng  theo chúng tôi là:

Một là: Khen thưởng phải đúng mục đích tạo động lực, khuyến khích và tôn vinh hoạt động đổi mới, sáng tạo và nâng cao hiệu suất của người lao động. Hoạt động khen thưởng khác với việc trả công bằng tiền lương hay phụ cấp cho người lao động theo luật pháp và quy định. Chúng ta cần phân biệt rõ vì đã có nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý đối xử với người lao động không rõ ràng, sòng phẳng. Ví dụ, đề nghị cấp dưới làm thêm nhiều giờ, thêm nhiều việc ngoài định mức lao động, đúng ra phải tính thêm tiền công cho họ thì lại thay bằng lời hứa hãy cứ làm xong việc rồi sẽ có thưởng. Khi cấp dưới đã hoàn thành tốt công việc, dự án giao thêm thì cấp quản lý chỉ “thưởng” cho một khoản “bèo bọt”, khiến người lao động bất mãn, giảm động lực.

Hai là: Khen thưởng phải đúng việc, đúng người và công bằng, công khai. Muốn xác định được người lao động thực hiện đúng việc của mình chúng ta cần có sự đánh giá công việc và năng lực người làm một cách khoa học, thường dựa trên bảng mô tả công việc hay vị trí việc làm và chỉ số đánh giá thực hiện công việc (KPI). Những cá nhân hoặc tập thể hoàn thành vượt mức chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao cần được khen thưởng; càng xuất sắc, càng đạt thành tích cao mức khen thưởng càng lớn. Khen thưởng một cách chính xác, công bằng đòi hỏi việc xem xét, đánh giá và bình chọn phải thực hiện một cách khách quan, khoa học, căn cứ vào hoàn cảnh và mức độ công trạng tại tổ chức hoặc địa phương cụ thể.

Chúng ta cũng cần hết sức tránh việc khen thưởng thiên vị, ưu tiên hoặc cả nể đối với các chức danh lãnh đạo và người nhà của họ. Dân gian đã từng tổng kết một thói quen xấu của không ít các tổ chức ở nước ta: Việc làm thì giao từ dưới lên, khen thưởng thì trên xuống dưới. Vì vậy, việc bổ sung nguyên tắc công khai trong khen thưởng ở nước ta là rất cần thiết.

Ba là: Khen thưởng phải kịp thời và duy trì một cách định kỳ, liên tục. Khen thưởng kịp thời, ngay sau khi người lao động đạt thành tích cao hay thành công xuất sắc có tác dụng động viên, truyền cảm hứng mạnh hơn nhiều so với việc khen thưởng cùng mức độ nhưng ở thời gian sau đó hàng tháng, hàng năm… Chúng ta đã chứng kiến việc các ông bầu, nhà tài trợ “thưởng nóng” cho cầu thủ sau mỗi trận đấu thành công. Lãnh đạo Công an thưởng ngay cho các đơn vị phá án hình sự nhanh… Đối với ngành Điện, việc thực hiện khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có đóng góp xuất sắc trong việc khắc phục sự cố thiên tai, cấp lại điện nhanh trong các cơn bão lụt lớn ở nước ta gần đây là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn.

Hành vi, chế độ khen thưởng chỉ trở thành văn hóa trong các doanh nghiệp và tổ chức nước ta khi nó được thực hiện đúng và duy trì một cách thường xuyên, liên tục trong nhiều năm liền. Chúng ta cần làm việc này một cách quy củ, nề nếp và tự nhiên để đạt mục tiêu đích thực của nó, tránh kiểu chạy theo phong trào, mang nặng tính hình thức, thụ động.

Văn hóa có nghĩa gốc là đưa cái “văn”, tức là cái đẹp với nghĩa rộng, theo cả ba khía cạnh: Chân, thiện, mỹ vào đời sống, hiện thực hóa bằng các hành vi, hành động đẹp của con người. Chủ thể của nơi công cộng thường là một đám đông có tổ chức lỏng lẻo, nơi dễ thể hiện các hành vi có tính bản năng và phức tạp. Vậy làm thế nào để đội ngũ người lao động trong doanh nghiệp giảm thiểu các lời nói, hành vi việc làm kém/phản văn hóa trong môi trường công cộng? Cần quản lý - quản trị bằng công cụ và phương pháp nào cho phù hợp và hiệu quả? Liệu kinh nghiệm và câu chuyện quản trị văn hóa doanh nghiệp hiệu quả có phù hợp với quản trị văn hóa của đám đông nơi công cộng không?

Theo tôi, giải pháp đầu tiên là phải kiến tạo, bồi đắp nền tảng văn hóa ứng xử từ trong các gia đình, trường học, công sở, doanh nghiệp… để các thành viên của tổ chức này có thái độ, kiến thức, kỹ năng và thói quen cư xử với người khác, với tổ chức của mình và xã hội một cách có văn hóa. Chính văn hóa cá nhân, còn gọi là nhân cách là cái gốc để con người có ý thức và khả năng làm chủ bản thân, là chủ thể văn hóa ở mọi lúc, mọi nơi. Hơn thế nữa, văn hóa của các tổ chức mạnh có tác dụng soi rạng (gần mực thì đen, gần đèn thì rạng), tiếp thêm sức mạnh cho các thành viên từ nền tảng tinh thần của tổ chức, từ sứ mệnh, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi và quy tắc ứng xử…, làm cho người ấy ra nơi công cộng mà vẫn không bị hòa tan vào đám đông bởi danh dự, uy tín và bản sắc văn hóa của tổ chức mà họ đã được giáo dục và là người đại diện.

Thứ hai, cần quản trị văn hóa nơi công cộng bằng các công cụ và phương pháp văn trị thích hợp. Nếu trước đây quản lý nơi công cộng, đám đông chính quyền thường chỉ dùng các lệnh cấm như một câu mệnh lệnh đơn giản, ngắn gọn, có tính pháp lý thuần túy, như cấm hút thuốc, cấm bẻ hoa, cấm dẫm lên cỏ, cấm bán hàng rong… thì hiện nay đã bổ sung thêm việc xây dựng và áp dụng Quy tắc ứng xử theo kiểu doanh nghiệp, có đầy đủ lý và tình hơn.

Ví dụ, trong bộ Quy tắc ứng xử văn hóa của Cơ quan Tập đoàn Điện lực Việt Nam, mục 2.7.3 Ứng xử nơi công cộng quy định rất cụ thể, yêu cầu cán bộ, chuyên viên, người lao động: “Luôn thể hiện sự văn minh lịch sự trong giao tiếp, ứng xử nơi công cộng. Có ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, bảo vệ môi trường; chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật và quy tắc sinh hoạt nơi công cộng. Chia sẻ, giúp đỡ người già, phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, hỗ trợ người bị nạn; tự giác tham gia giữ gìn an ninh trật tự xã. hội; tích cực đấu tranh với những hành vi trái pháp luật, trái với đạo lý và thuần phong mỹ tục…”.

Thứ ba, việc đầu tư, kiến tạo nên những không gian, công trình công cộng có tính hiệu quả và hoàn hảo là cơ sở vật chất - kỹ thuật để quản trị, duy trì văn hóa giao tiếp, ứng xử đẹp, văn minh. Trải nghiệm ở quốc đảo Singapore sẽ cho thấy cảm xúc trân trọng vẻ đẹp hoàn hảo, hài hòa của thiên nhiên và nhân tạo, khiến người ta rất nghiêm khắc phê phán và xử lý các hành vi gây ồn ào, làm bẩn môi trường.

Thứ tư, cần kết hợp giữa văn trị - đức trị với pháp trị, kỹ trị. Nơi công cộng, nhất là trong các đô thị, như nhà ga, bến xe, rạp hát, sân vận động, nhà hàng… là nơi đông người, nhiều phương tiện giao thông qua lại… thường rất phức tạp, khó kiểm soát, dễ phát sinh các hiện tượng lộn xộn, phá chuẩn, thậm chí là mất an toàn, an ninh. Trong một khu vực có hàng nghìn người có hành vi tự giác, tuân thủ trật tự, nhưng chỉ cần có một vài người hành xử có tính bản năng, chống đối, phá hoại hoặc đe dọa khủng bố, nếu không xử lý được kịp thời thì có thể tạo ra một đám đông hỗn loạn, dẫn đến hậu quả nguy hiểm.

Vì vậy, quy tắc ứng xử mang tính định hướng, khuyến khích chưa đủ hiệu lực. Chúng ta cần có sự hỗ trợ của luật pháp nghiêm minh và các chế tài hiệu quả, các công nghệ hiện đại, thông minh (lắp camera giám sát, máy theo dõi hành trình phương tiện giao thông, nhận dạng, phân tích đối tượng, xử lý nghiêm và phạt nặng những người cố tình vi phạm…). Và những người thực thi pháp luật cần liêm chính, mẫn cán và chuyên nghiệp. Những công cụ và phương pháp quản lý hiện đại này, đến lượt nó lại trở thành điều kiện vật chất – kỹ thuật và nguồn lực hỗ trợ để chúng ta xây dựng và quản trị văn hóa nơi công cộng văn minh, hội nhập quốc tế.

Ngành Điện là một ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù, mỗi người lao động ngành Điện là một “đại sứ” trong giao tiếp với khách hàng và cộng đồng nơi công cộng. Vì thế, việc mỗi người lao động, mỗi đơn vị trong Tập đoàn xây dựng và tuân thủ nghiêm túc các quy định về quy tắc ứng xử nơi công cộng sẽ giúp tạo dựng niềm tin về những giá trị tốt đẹp của Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong cộng đồng xã hội.

1. Chức năng:

           Tham mưu cho Chủ tịch và Tổng giám đốc về công tác đầu tư xây dựng các dự án bao gồm: lập, thẩm định, trình duyệt dự án đầu tư, thiết kế, dự toán đầu tư xây dựng các công trình. Tham mưu về công tác quản lý tiến độ, chất lượng xây dựng các dự án nguồn điện và các dự án khác của Công ty  từ giai đoạn chuẩn bị xây dựng cho đến khi hoàn thành đưa vào sử dụng.

           2. Nhiệm vụ và quyền hạn:

           - Chủ trì lập dự toán các chi phí quản lý dự án, tiến độ thực hiện, kế hoạch vốn đầu tư xây dựng, kế hoạch giải ngân hàng năm các dự án của EVNHPCSONGBAHA trình Tổng giám đốc xem xét phê duyệt theo phân cấp quản lý hoặc đệ trình Tập đoàn, các cấp có thẩm quyền phê duyệt (Phòng ban tham gia: TCKT);

           - Chủ trì tổ chức nghiệm thu, bàn giao các hạng mục công trình thuộc dự án do EVNHPCSONGBAHA trực tiếp quản lý (Phòng ban tham gia: KT);

           - Theo dõi, giám sát chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn và vệ sinh môi trường của các hạng mục công trình thuộc dự án do EVNHPCSONGBAHA trực tiếp quản lý (Phòng ban tham gia: KT);

           - Thẩm tra, thẩm định và trình duyệt các quy hoạch về thủy điện, nhiệt điện và các nguồn năng lượng khác, các công trình xây dựng có liên quan đến các dự án nguồn trong phạm vi quyền hạn của EVNHPCSONGBAHA (các Ban tham gia: KHVT, KT);

           - Thẩm tra, trình duyệt các báo cáo đầu tư, dự án đầu tư, thiết kế kĩ thuật các dự án do EVNHPCSONGBAHA là chủ đầu tư hoặc các đơn vị thành viên của EVNHPCSONGBAHA trình theo phân cấp (các Phòng ban tham gia: KHVT, KT);

           - Thẩm tra, trình duyệt các đề cương khảo sát thiết kế các dự án do EVNHPCSONGBAHA làm chủ đầu tư hoặc quyết định đầu tư (Phòng ban tham gia: KHVt, KT);

           - Thẩm tra, thẩm định, trình duyệt các phương án đấu nối các nhà máy điện trong EVNHPCSONGBAHA vào hệ thống điện quốc gia theo phân cấp (các Phòng ban tham gia: KHVT, KT);

           - Thẩm tra, trình duyệt phạm vi và nội dung công tác tư vấn, kể cả tư vấn nước ngoài các dự án do EVNHPCSONGBAHA làm chủ đầu tư hoặc quyết định đầu tư (các Phòng ban tham gia: KT, KHVT, QLDA);

           - Thẩm tra, thẩm định, trình duyệt theo phân cấp các nội dung bổ sung, phát sinh liên quan đến thiết kế kỹ thuật của các dự án trong quá trình thi công (các Ban tham gia: KH, KTSX);

           - Chủ trì thẩm tra và trình duyệt Tổng mức đầu tư, Tổng dự toán công trình, dự toán gói thầu trong đầu tư xây dựng và sửa chữa lớn các công trình theo phân cấp (các Phòng ban tham gia: KHVT, TCKT, KT);

           - Chủ trì, thẩm tra và trình duyệt các chi phí phát sinh và các vướng mắc về kinh tế trong quá trình thực hiện dự án theo phân cấp (các Phòng ban tham gia: KHVT, TCKT);

           - Nghiên cứu hướng dẫn các công ty con, các đơn vị trực thuộc để thực hiện các thay đổi về chế độ chính sách của Nhà nước, định mức - đơn giá trong hoạt động đầu tư xây dựng và sản xuất kinh doanh cho phù hợp (các Phòng ban tham gia: KHVT, TCKT, TCLĐ, KT);

           - Làm đầu mối đôn đốc giải quyết các vấn đề có liên quan trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng và trong quá trình thực hiện đầu tư của dự án;

           - Thẩm tra và trình duyệt tổng tiến độ hiệu chỉnh, tiến độ thi công hàng năm và tiến độ hiệu chỉnh trong năm của các công trình chỉ định thầu (nếu có) và quản lý tiến độ thi công các công trình được chỉ định thầu hoặc đấu thầu;

       - Thẩm tra và trình duyệt khối lượng phát sinh của các công trình, hạng mục công trình trong giai đoạn thi công (Các Phòng ban tham gia: KHVT,TCKT,KT);

        - Theo dõi và xử lý các vướng mắc trong việc thực hiện các hợp đồng thi công xây lắp, hợp đồng mua sắm vật tư thiết bị các công trình của EVNHPCSONGBAHA ở giai đoạn thực hiện đầu tư;

           - Nghiên cứu, kiểm tra, đề xuất các giải pháp liên quan đến công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của EVNHPCSONGBAHA (nói chung) và từng công trình, hạng mục công trình (nói riêng) theo các quy định hiện hành.

 1. Chức năng:

          Tham mưu cho Chủ tịch và Tổng giám đốc về xây dựng và thực hiện phương án sản xuất kinh doanh điện (chào giá trên thị trường giao ngay, kinh doanh bán điện...), kinh doanh các dịch vụ sửa chữa và các ngành nghề đã đăng ký kinh doanh của EVNHPCSONGBAHA.

           2. Nhiệm vụ và quyền hạn:

           - Theo dõi hoạt động của thị trường điện để tham mưu Lãnh đạo EVNHPCSONGBAHA chỉ đạo việc tham gia thị trường điện của các đơn vị thành viên đảm bảo lợi ích của EVNHPCSONGBAHA, kiến nghị các cấp có thẩm quyền sửa đổi bổ sung liên quan đến hệ thống văn bản pháp lý phục vụ thị trường điện (các ban tham gia: KT, TCKT, KHVT);

           - Làm đầu mối nghiên cứu các đề xuất của Bộ Công thương (Tổng cục Năng lượng, ERAV) về xây dựng và phát triển mô hình thị trường phát điện cạnh tranh chính thức, trong đó bao gồm thiết kế thị trường điện, các Quy trình, Quy định liên quan để báo cáo Tổng giám đốc trình Chủ tịch thông qua gửi EVNGENCO2 (các Phòng ban tham gia: KT, KHVT, TCKT);

           - Theo dõi, đôn đốc các đơn vị thành viên xây dựng hạ tầng kỹ thuật và tổ chức đào tạo nguồn nhân lực phục vụ vận hành thị trường điện (các Phòng ban tham gia: TCLĐ, KT, KHVT);

           - Theo dõi, giám sát và hỗ trợ kỹ thuật cho các đơn vị có cổ phần, vốn góp của EVNHPCSONGBAHA tham gia thị trường điện;

           - Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng mua bán điện của các thành viên có hợp đồng mua bán điện với EVNHPCSONGBAHA; đàm phán giá điện và hợp đồng mua bán điện các dự án cụ thể theo chỉ đạo của Tổng giám đốc (các Phòng ban tham gia: TCLĐ, KT, KHVT, TCKT);

           - Làm đầu mối tổ chức thẩm định phương án giá điện, dự thảo hợp đồng mua bán điện do các đơn vị trình duyệt theo phân cấp của EVNGENCO 2, EVN (các Phòng ban tham gia: TCLĐ, KT, TCKT);

           - Nghiên cứu, theo dõi, kiểm tra công tác tổ chức kinh doanh điện năng, tiết kiệm điện, dịch vụ khách hàng (các Phòng ban tham gia: KHVT, TCKT, TCLĐ, VP);

           - Xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh cho từng thời kỳ đảm bảo ổn định doanh thu và tổ chức thực hiện sau khi kế hoạch được phê duyệt;

           - Xây dựng đơn giá cho từng loại hình kinh doanh, dịch vụ khác và tổ chức thực hiện đảm bảo đạt doanh thu và lợi nhuận cao trên cơ sở khai thác tối đa mọi nguồn lực của EVNHPCSONGBAHA và duy trì được mối quan hệ tích cực với khách hàng (các Ban tham gia: KHVT, TCKT, TCLĐ, TCLĐ, VP);

           - Tham gia dự thầu các gói thầu về các dịch vụ phù hợp với khả năng, điều kiện và đăng ký kinh doanh của EVNHPCSONGBAHA; đầu mối giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng với khách hàng (Các Phòng ban tham gia: TCKT, TCLĐ);

           - Triển khai thực hiện, quản lý, giám sát, theo dõi việc thực hiện và thanh toán các hợp đồng thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ (Phòng ban tham gia: TCKT);

           - Tìm hiểu nhu cầu thị trường hiện tại và tiềm năng để đề xuất các biện pháp mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh trên khả năng hiện có của EVNHPCSONGBAHA, đề xuất bổ sung những ngành nghề kinh doanh phù hợp;

           - Phân tích, báo cáo định kỳ kết quả hoạt động kinh doanh, đề xuất các biện pháp xử lý khó khăn, trở ngại trong quá trình hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh (Phòng ban phối hợp: TCKT).

1. Chức năng:

           Tham mưu cho Chủ tịch và Tổng giám đốc về công tác kinh tế, tài chính và hạch toán kế toán của Công ty; công tác thu xếp vốn vay trong và ngoài nước cho các dự án trong toàn Công ty.

   2. Nhiệm vụ và quyền hạn:

           - Chủ trì xây dựng kế hoạch tài chính - tín dụng trung hạn và dài hạn của EVNHPCSONGBAHA (các Phòng ban tham gia: KHVT);

           - Làm đầu mối tập hợp các nguồn lực để tiếp xúc với đối tác nước ngoài trong việc khảo sát, tìm hiểu khả năng, các điều kiện vay vốn của đối tác nước ngoài cho các dự án nguồn điện dự kiến vay vốn nước ngoài của EVNHPCSONGBAHA (các Phòng ban tham gia: KHVT, QLDA, TCKT, VP);

           - Làm đầu mối trong quan hệ với các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính nước ngoài để giải quyết các thủ tục thu xếp vốn cho đến khi các hiệp định/hợp đồng vay có hiệu lực và tổng hợp theo dõi công tác quản lý các dự án theo đúng các qui định của Nhà nước và các hướng dẫn của tổ chức cho vay (các Ban tham gia: KHVT, QLDA, TCKT, VP, TCLĐ);

           - Đề xuất các giải pháp huy động vốn trong và ngoài nước và thực hiện sau khi được phê duyệt. Tổ chức quản lý và sử dụng các nguồn vốn, các quỹ của EVNHPCSONGBAHA. Tổ chức quản lý, sử dụng, giám sát các quỹ tập trung của EVNHPCSONGBAHA;

           - Đàm phán các hợp đồng tín dụng trong và ngoài nước (các Ban tham gia: KHVT, QLDA, VP, TCLĐ);

           - Lập kế hoạch, nghiên cứu, đề xuất các đề án, phương án phát hành Cổ phần của EVNHPCSONGBAHA (các Ban tham gia: KHVT);

         - Quản lý, theo dõi và hạch toán các khoản vốn góp của EVNHPCSONGBAHA tại các doanh nghiệp khác. Quản lý sổ cổ đông của EVNHPCSONGBAHA tại các doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của EVNHPCSONGBAHA. Đề xuất việc bán bớt phần vốn hoặc giảm tỷ lệ cổ phần của EVNHPCSONGBAHA tại các doanh nghiệp khác. Đầu mối bàn giao vốn và tài sản từ EVNHPCSONGBAHA cho các đơn vị thành viên và bàn giao vốn và tài sản giữa các đơn vị thành viên theo phương thức thanh toán;

           - Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc giải ngân đối với các nguồn vốn trong và ngoài nước. Thanh toán, cấp phát vốn cho các đơn vị trực thuộc EVNHPCSONGBAHA;

           - Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của EVNHPCSONGBAHA với ngân sách nhà nước;

           - Đề xuất các chính sách giá điện, lập phương án giá bán buôn điện. Nghiên cứu lập phương án giá các loại sản phẩm khác (ngoài đơn giá sản phẩm trong đầu tư xây dựng và sửa chữa lớn) thuộc thẩm quyền quyết định của EVNHPCSONGBAHA (các Ban tham gia: KHVT, TTĐ);

           - Hướng dẫn theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chế độ quản lý tài sản. Làm đầu mối trong việc thanh xử lý vật tư tài sản của EVNHPCSONGBAHA;

           - Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, trình duyệt quyết toán các công trình đầu tư xây dựng, sửa chữa lớn tài sản cố định của các đơn vị (các Phòng ban tham gia: KHVT, KT, QLDA, TCLĐ);

           - Thực hiện công tác hạch toán, lập báo cáo tài chính của EVNHPCSONGBAHA và tổng hợp báo cáo tài chính hợp nhất của EVNHPCSONGBAHA. Tham mưu giúp Tổng giám đốc báo cáo Chủ tịch đệ trình EVNGENCO2 thông qua báo cáo tài chính hàng năm, phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế hoặc xử lý các khoản lỗ trong quá trình kinh doanh của EVNHPCSONGBAHA. Thực hiện việc công bố công khai các báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật;

           - Tổ chức thẩm tra báo cáo tài chính năm các đơn vị trực thuộc EVNHPCSONGBAHA, trình Chủ tịch phê duyệt;

           - Định hướng công tác tài chính, kế toán trong EVNHPCSONGBAHA (Ban tham gia: KHVT);

           - Đảm nhiệm công tác tài chính, kế toán của cơ quan EVNHPCSONGBAHA. Theo dõi, đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh và đề xuất biện pháp xử lý để nâng cao hiệu quả của khối hạch toán tập trung và của EVNHPCSONGBAHA (các Ban tham gia: TCLĐ, KHVT, TTĐ, KT);

           - Thực hiện công bố công khai các chỉ tiêu tài chính năm của EVNHPCSONGBAHA  theo quy định của Nhà nước. Chủ trì lập các báo cáo công khai tình hình tài chính của EVNHPCSONGBAHA. Thực hiện đánh giá xếp loại doanh nghiệp hàng năm theo quy định của Bộ Tài chính;

           - Đầu mối giám sát và đánh giá hoạt động tài chính của Công ty; theo dõi và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính, bảo toàn và phát triển vốn của EVNHPCSONGBAHA đầu tư tại các doanh nghiệp khác (các Ban tham gia: KHVT);

           - Đầu mối kiểm soát cơ cấu vốn điều lệ của các công ty con; thực hiện các thủ tục đệ trình các cấp có thẩm quyền điều chỉnh vốn điều lệ đối với các công ty con (các Ban tham gia: KHVT, TCLĐ);

           - Đầu mối về xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, thẩm tra quyết toán phần vốn nhà nước chuyển sang cho CTCP; xác định giá trị tài sản loại ra khỏi giá trị doanh nghiệp; lựa chọn tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, thẩm tra phương án giá điện của các CTCP phát điện. Bàn giao vốn và tài sản sang CTCP. Báo cáo Tổng giám đốc thông qua trình Chủ tịch xử lý các tồn tại vướng mắc về tài chính trong quá trình cổ phần hóa. Đầu mối xác định giá trị thương hiệu EVNHPCSONGBAHA;

           - Đầu mối nghiên cứu các ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài chính kế toán của EVNHPCSONGBAHA (Ban tham gia: KHVT, KT);

          - Lập phương án tham gia thị trường chứng khoán; theo dõi các giao dịch chứng khoán của EVNHPCSONGBAHA và của các doanh nghiệp có vốn góp của EVNHPCSONGBAHA trên thị trường chứng khoán và kiến nghị các giải pháp thích hợp;

          - Theo dõi công tác bảo hiểm, mua bảo hiểm đối với tài sản, vật kiến trúc do EVNHPCSONGBAHA là chủ sở hữu và các dự án đầu tư do EVNHPCSONGBAHA là chủ đầu tư…

1. Chức năng:

          Tham mưu cho Chủ tịch và Tổng giám đốc về công tác quản lý kỹ thuật sản xuất, vận hành, sửa chữa nguồn điện, công tác an toàn điện và bảo hộ lao động, công tác bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ (PCCN), năng lượng hiệu quả và các vấn đề kỹ thuật có liên quan trong công tác hoạch định chiến lược khoa học, công nghệ, môi trường và phát triển nguồn điện, công tác quản lý chất lượng trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của EVNHPCSONGBAHA.

           2. Nhiệm vụ và quyền hạn:

           - Thực hiện các nhiệm vụ quản lý kỹ thuật sản xuất, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, công trình của các đơn vị phát điện thuộc EVNHPCSONGBAHA theo các quy định và phân cấp của EVNGENCO 2 và EVN;

           - Kiểm tra giám sát các đơn vị liên quan trong EVNHPCSONGBAHA thực hiện chỉ tiêu kế hoạch suất hao nhiên liệu điện tự dùng EVNGENCO2 và EVN giao cũng như chỉ tiêu của toàn EVNHPCSONGBAHA. Tổng hợp, phân tích số liệu suất hao nhiên liệu tiết kiệm điện tự dùng trong toàn EVNHPCSONGBAHA;

           - Tổ chức thống kê, tổng hợp, phân tích đánh giá sự cố của các đơn vị thành viên. Tổ chức điều tra, phân tích nguyên nhân, đưa ra các giải pháp khắc phục các sự cố lớn, nghiêm trọng trong EVNHPCSONGBAHA;

           - Tổ chức giám sát, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá và đưa ra các khuyến nghị về kỹ thuật và quản lý đối với các đơn vị thành viên về các nội dung quản lý kỹ thuật và thực hiện các quy phạm, tiêu chuẩn, quy trình, quy định, chỉ tiêu, định mức kỹ thuật liên quan đến công tác vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng;

           - Theo dõi, tham mưu, kiểm tra, giám sát việc vận hành an toàn, tin cậy, kinh tế các nguồn điện EVNHPCSONGBAHA;

           - Kiến nghị sửa đổi, bổ sung đối với các quy phạm, tiêu chuẩn liên quan đến quản lý vận hành, sửa chữa, an toàn do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành;

           - Định hướng công tác an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, thiên tai bão lụt trong EVNHPCSONGBAHA;

           - Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các đơn vị thực hiện công tác huấn luyện an toàn PCCN cho người sử dụng lao động, người quản lý, cán bộ làm công tác an toàn bảo hộ lao động theo quy định của Nhà nước và EVNGENCO2, EVN. Kiểm tra các đơn vị thực hiện công tác huấn luyện, sát hạch về pháp luật bảo hộ lao động, PCCN, quy trình, quy phạm cho người lao động;

           - Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các đơn vị của EVNHPCSONGBAHA thực hiện công tác điều tra tai nạn lao động;

           - Tổ chức xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và các chương trình quản lý kỹ thuật, an toàn, vật tư cho sản xuất kinh doanh của EVNHPCSONGBAHA.

           - Chủ trì xây dựng biện pháp quản lý kỹ thuật; cập nhật quy trình, quy tắc, chế độ bảo dưỡng, chế độ thử dự phòng, thử định kỳ các thiết bị, máy móc, các phương tiện vận tải, cẩu kéo, bốc dỡ, các biểu mẫu về thống kê, báo cáo, lý lịch thiết bị để áp dụng thống nhất trong khối sản xuất tại Công ty mẹ.

           - Chủ trì xây dựng và theo dõi thực hiện các định mức sử dụng vật tư, hóa chất và điện năng trong vận hành, sửa chữa, thí nghiệm, hóa nghiệm tại EVNHPCSONGBAHA.

           - Chủ trì lập danh mục sửa chữa lớn năm kế hoạch liền kề và xây dựng kế hoạch sửa chữa lớn cho 5 năm tiếp theo.

           - Chủ trì xây dựng phương án thực hiện và lập dự toán cho các công trình sửa chữa theo yêu cầu của Tổng Giám đốc.

           - Thường trực cho Hội đồng kỹ thuật, Hội đồng nghiệm thu cơ sở của  khối sản xuất tại Công ty để đánh giá, kết luận về chất lượng các công trình trước khi đưa vào khai thác, sử dụng. Tham gia vào thành phần các hội đồng khác của Công ty khi có yêu cầu.

           - Tổ chức thực hiện công tác đăng ký, kiểm tra, thử nghiệm định kỳ các thiết bị nghiêm ngặt an toàn, đo thông số môi trường theo đúng quy định của Nhà nước. Lập biên bản theo quy định về các sự cố tai nạn, hỏa hoạn làm hư hỏng thiết bị, máy móc xảy ra trong phạm vi khối sản xuất tại Công ty.

           -Tổ chức xây dựng chính sách, chiến lược khoa học công nghệ, chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn hoá, quản lý chất lượng và định hướng áp dụng trong EVNHPCSONGBAHA (các Phòng ban tham gia: KHVT, TTĐ, QLDA và các Phòng ban liên quan);

           - Tổ chức nghiên cứu, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ, sản phẩm mới trong nước và ngoài nước, đánh giá chất lượng và khả năng ứng dụng rộng rãi trong EVNHPCSONGBAHA. Tổ chức đánh giá tác động của việc áp dụng công nghệ, sản phẩm mới đối với môi trường (các Phòng ban tham gia: QLDA và các Phòng ban liên quan);

           - Định hướng công tác bảo vệ môi trường trong EVNHPCSONGBAHA;

           - Kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong toàn EVNHPCSONGBAHA;

           - Tổ chức xét duyệt và nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp EVNHPCSONGBAHA. Chuẩn bị các thủ tục trình EVNGENCO2, EVN duyệt các đề tài cấp EVNGENCO2, EVN trở lên.Tổ chức triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất vào sản xuất kinh doanh của các đơn vị của EVNHPCSONGBAHA (các Phòng ban tham gia: KHVT,TCKT và các Phòng ban liên quan);

           - Nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia có liên quan đến EVNHPCSONGBAHA; đầu mối nghiên cứu, áp dụng triển khai tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO tại Cơ quan EVNHPCSONGBAHA (các Phòng ban tham gia: KHVT, QLDA, và các Phòng ban liên quan);

           - Đầu mối hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việcquản lý các chất thải độc hại trong EVNHPCSONGBAHA;

           - Theo dõi, đôn đốc, giám sát và đánh giá công tác quản lý môi trường, quản lý chất lượng các dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM).

           - Đầu mối theo dõi, đôn đốc và giám sát việc thực hiện các hợp đồng cung cấp dịch vụ phát triển dự án theo cơ chế phát triển sạch, hợp đồng mua bán chứng nhận giảm phát thải của Dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM);

1. Chức năng:

          Tham mưu cho Chủ tịch và Tổng giám đốc về công tác kế hoạch hàng năm, dài hạn, quy hoạch và chiến lược phát triển toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động của Công ty và công tác thống kê kết quả hoạt động trong các lĩnh vực này; công tác quản lý vật tư trong toàn Công ty và cho sản xuất kinh doanh của các tổ máy Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ.

   2. Nhiệm vụ và quyền hạn:

         - Chịu trách nhiệm tổng hợp và xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh, tài chính dài hạn, trung hạn, hàng năm của EVNHPCSONGBAHA (cácPhòngbanthamgia: TCLĐ,TCKT,TTĐ,VP,KT,QLDA);

         - Chủ trì tổng hợp các ý kiến đóng góp cho quy hoạch phát triển EVNHPCSONGBAHA phù hợp với quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia các giai đoạn (cácPhòngbanthamgia: QLDA, TCLĐ,TCKT,TTĐ,VP,KT);

         - Cân đối nhu cầu điện năng hàng năm, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch bán điện hàng năm của EVNHPCSONGBAHA (Các Phòng ban phối hợp: TTĐ, KT, TCKT);

       - Tổng hợp, báo cáo Tổng giám đốc để trình Chủ tịch phê duyệt các chỉ tiêu kế hoạch của các Đơn vị Phòng ban Công ty và giao cho các đơn vị Phòng ban thực hiện; tổng hợp các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh, tài chính của EVNHPCSONGBAHA để Tổng giám đốc trình Chủ tịch giao cho Người đại diện Công ty biểu quyết tại Đại hội cổ đông. Tổng hợp tình hình hoạt động của EVNHPCSONGBAHA, thực hiện các báo cáo theo quy định của EVNHPCSONGBAHA (cácPhòngbanthamgia:TCKT,KT,TTĐ);

        - Quản lý danh mục đầu tư của EVNHPCSONGBAHA đảm bảo điều kiện về đầu tư và cơ cấu ngành nghề theo quy định của pháp luật; lập kế hoạch, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư của EVNHPCSONGBAHA và báo cáo các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo yêu cầu (các Ban tham gia: QLDA, TCKT);

        - Tổng hợp, lập kế hoạch đầu tư xây dựng và bố trí vốn của EVNHPCSONGBAHA (các Phòng ban tham gia: TCKT, QLDA);

        - Quản lý và cân đối kế hoạch các nguồn vốn dài hạn và hàng năm của EVNHPCSONGBAHA báo cáo Tổng giám đốc trình Chủ tịch phê duyệt và giao các đơn vị Phòng ban thực hiện (các Ban tham gia: TCKT);

        - Tổng hợp, dự thảo báo cáo trình các cơ quan nhà nước về việc huy động các nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn ngân sách, ODA, vốn vay tín dụng ưu đãi trong nước, các nguồn vốn vay thương mại khác và việc giải ngân cho các công trình đầu tư của EVNHPCSONGBAHA (các Ban tham gia: TCKT, QLDA, VP);

        - Thẩm định, trình Lãnh đạo EVNHPCSONGBAHA ra quyết định giao nhiệm vụ: chủ đầu tư, tiếp nhận và quản lý vận hành công trình cho các đơn vị  Phòng ban (các Ban tham gia: TCLĐ, QLDA, KT, TTĐ);

        - Chủ trì xây dựng:

               + Chiến lược phát triển, kế hoạch phối hợp kinh doanh chung của EVNHPCSONGBAHA;

               + Định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh trung hạn, dài hạn của Công ty;

               + Định hướng về mục tiêu hoạt động đầu tư, các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh của Công ty;

               + Định hướng quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản trong EVNHPCSONGBAHA (Phòng ban tham gia: TCKT, TCLĐ);

               + Báo cáo giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của EVNHPCSONGBAHA;

               + Đề xuất các chỉ tiêu đánh giá chủ chốt áp dụng chung trong EVNHPCSONGBAHA;

          + Đầu mối giám sát, đánh giá, tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Theo dõi và đánh giá hiệu quả hoạt động của EVNHPCSONGBAHA (các Phòng ban tham gia: TCKT, TCLĐ, và các Phòng ban liên quan);

         + Đầu mối đề xuất xây dựng hệ thống thông tin quản lý thống kê và ban hành niên giám thống kê. Định hướng công tác thống kê trong EVNHPCSONGBAHA (Phòng ban tham gia: TCKT và các Phòng ban liên quan);

       - Tổng hợp, lập báo cáo tháng, báo cáo sơ kết, tổng kết của EVNHPCSONGBAHA và các báo cáo khác theo chức năng và yêu cầu của Lãnh đạo EVNHPCSONGBAHA;

         - Chủ trì thực hiện mua sắm trực tiếp vật tư theo đúng quy định; chủ trì tiếp nhận vật tư, nhiên liệu phục vụ công tác sản xuất của EVNHPCSONGBAHA (Ban tham gia: TCKT, KT, VP);

       - Quản lý và bảo quản hàng hóa trong kho theo đúng quy định; tổ chức thu hồi vật tư, phế liệu và đề xuất biện pháp xử lý; thực hiện công tác kiểm kê định kỳ và đột xuất theo yêu cầu EVNHPCSONGBAHA (Phòngbanthamgia:TCKTvàcácPhòngbanliênquan);

      - Thống kê, nhận xét và báo cáo, đánh giá kết quả sử dụng vật tư của các đơn vị Phòng ban trong EVNHPCSONGBAHA theo định kỳ và đột xuất (Phòngbanthamgia:TCKTvàcácPhòngbanliênquan);

        - Thực hiện các thủ tục và tổ chức giao nhận hàng xuất nhập khẩu, hàng gia công trong nước theo đúng quy định; cấp phát vật tư cho các công trình xây dựng, sửa chữa đảm bảo chất lượng và thời gian theo kế hoạch được giao;

        - Tổng hợp và lập kế hoạch mua sắm vật tư, thiết bị trong EVNHPCSONGBAHA;

        - Xây dựng, trình duyệt định hướng mua sắm các thiết bị, vật tư chuyên ngành đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả của toàn hệ thống điện trên cơ sở Điều lệ tổ chức và hoạt động và kế hoạch sản xuất, kinh doanh của EVNHPCSONGBAHA;

        - Theo dõi, tổng hợp, đề xuất các phương án hiệu quả trong việc sử dụng, giảm vật tư thiết bị tồn kho ứ đọng, vật tư thu hồi của EVNHPCSONGBAHA. Theo dõi công tác quản lý và đề xuất việc điều động vật tư, thiết bị tồn đọng, chậm luân chuyển, vật tư thiết bị thu hồi trong đầu tư xây dựng, vận hành và sửa chữa các công trình, vật tư thiết bị dự phòng cho sản xuất kinh doanh của EVNHPCSONGBAHA;

1. Chức năng:

          Tham mưu cho Chủ tịch và Tổng giám đốc về công tác tổ chức bộ máy, cán bộ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đổi mới và phát triển doanh nghiệp, cổ phần hoá, lao động, tiền lương, chế độ chính sách, bảo hộ lao động, thi đua, khen thưởng.

          2. Nhiệm vụ và quyền hạn:

          - Xây dựng đề án tổ chức, sắp xếp, thành lập mới, giải thể các đơn vị và các Phòng ban chức năng cơ quan EVNHPCSONGBAHA; 

          - Thực hiện các thủ tục về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp khác có cổ phần, vốn góp của EVNHPCSONGBAHA;

          - Xây dựng tài liệu văn  hóa doanh nghiệp của EVNHPCSONGBAHA; định hướng các đơn vị triển khai thực hiện văn hóa doanh nghiệp; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện văn hóa doanh nghiệp tại các đơn vị các Phòng ban liênquan;

           - Xây dựng định hướng công tác cán bộ của EVNHPCSONGBAHA2 (Các Phòng ban liên quan);

           - Thực hiện công tác cán bộ; thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ của EVNHPCSONGBAHA thuộc diện EVNGENCO2 quản lý, cán bộ thuộc diện EVNHPCSONGBAHA quản lý, CBCNV cơ quan EVNHPCSONGBAHA, Kiểm soát viên, Người được EVNGENCO 2 cử tham gia là thành viên Ban kiểm soát tại các Công ty; tuyển dụng, bố trí và sử dụng CBCNV cơ quan EVNHPCSONGBAHA; công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy chế dân chủ;

           - Tổ chức thi, xếp lương nâng ngạch chính cho CBCNV trong EVNHPCSONGBAHA;

           - Xây dựng định hướng về công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong EVNHPCSONGBAHA;

           - Xây dựng, trình duyệt, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về đào tạo phát triển nguồn nhân lực của EVNHPCSONGBAHA;

           - Quản lý, trình duyệt, tổ chức thực hiện các đề án, dự án, công tác hợp tác quốc tế về đạo tạo phát triển nguồn nhân lực EVNHPCSONGBAHA (Phòng ban tham gia: Văn phòng);

           - Thẩm định, trình duyệt, tổ chức thực hiện công tác đào tạo chuẩn bị nhân lực cho các dự án nguồn điện mới;

           - Quản lý và thực hiện các thủ tục cử các đoàn và cá nhân đi công tác, học tập, tham quan ở nước ngoài (Phòng ban tham gia: Văn phòng);

           - Đề xuất xây dựng chế độ tiền lương, mức lương, thù lao, chế độ trả lương, thù lao đối với Người đại diện, Kiểm soát viên, Người được EVNGENCO 2 cử tham gia là thành viên Ban kiểm soát tại Công ty (Phòng ban tham gia: TCKT, các Phòng ban liên quan);

           - Tham mưu Tổng giám đốc báo cáo Chủ tịch để đệ trình EVNGENCO 2 phê duyệt quỹ tiền lương kế hoạch, quyết toán quỹ tiền lương thực hiện, quỹ tiền thưởng của Chủ tịch, Tổng giám đốc, Kiểm soát viên, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của EVNHPCSONGBAHA;

           - Đề xuất Lãnh đạo EVNHPCSONGBAHA xây dựng thang bảng lương, bảng lương, phụ cấp lương, kế hoạch tiền lương và phương án phân phối tiền công, tiền lương (Phòng ban tham gia: TCKT, các Ban liên quan);

           - Xây dựng, sửa đổi và đệ trình EVNGENCO 2 các định mức lao động sản xuất kinh doanh, hướng dẫn xây dựng định mức lao động tổng hợp, định biên lao động;

           - Hoàn thành thủ tục trình Lãnh đạo EVNHPCSONGBAHA quyết định hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xếp hạng Công ty cho các đơn vị Phòng ban;

           - Thực hiện các chỉ tiêu điều dưỡng, phục hồi chức năng cho CBCNV trong EVNHPCSONGBAHA theo quyết định của Tập đoàn;

           - Tổ chức xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn chấm điểm thi đua trong EVNHPCSONGBAHA;

           - Tổng hợp trình Lãnh đạo EVNHPCSONGBAHA quyết định khen thưởng cho tập thể, cá nhân.

 1. Chức năng:

             Tham mưu cho Chủ tịch và Tổng giám đốc về công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, chăm sóc sức khỏe, quan hệ quốc tế (trừ lĩnh vực tài chính) và quan hệ công chúng (PR); quản lý, điều hành công tác thông tin truyền  thông, quảng bá thương hiệu, tuyên truyền văn hóa doanh nghiệp, công tác truyền thống của EVNHPCSONGBAHA.

         2. Nhiệm vụ và quyền hạn:

           - Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn và tổ chức thực hiện việc tiếp nhận, xử lý, lưu trữ các văn bản, hồ sơ tài liệu của EVNHPCSONGBAHA và các đơn vị phòng ban theo các quy định của Nhà nước; hướng dẫn và kiểm tra thực hiện việc ban hành các văn bản của EVNHPCSONGBAHA theo đúng quy định về pháp chế hành chính, quy định của pháp luật; bảo mật hồ sơ tài liệu của EVNHPCSONGBAHA;

           - Tổng hợp tình hình hoạt động chung của cơ quan EVNHPCSONGBAHA;

           - Ra thông báo kết luận các cuộc họp do Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc chủ trì;

           - Chịu trách nhiệm dự thảo văn bản của Tổng giám đốc chỉ đạo các Ban chức năng thực hiện các Nghị quyết, Quyết định của Chủ tịch;

           - Lập chương trình công tác tuần, tháng của EVNHPCSONGBAHA, của Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc;

           - Quản lý, sử dụng con dấu của EVNHPCSONGBAHA theo quy định của pháp luật;

           - Làm đầu mối tiếp khách (bao gồm các cá nhân, tổ chức) đến làm việc với EVNHPCSONGBAHA, công tác lễ tân, tổ chức và phục vụ các hội nghị, hội thảo của EVNHPCSONGBAHA;

           - Quản lý, sử dụng thiết bị thông tin liên lạc, hệ thống điều hòa không khí trung tâm, các trang thiết bị văn phòng và phương tiện đi lại bao gồm xe ôtô các loại và xe tải, bố trí sắp xếp phòng làm việc, phòng họp, các khu nhà tập thể, vườn hoa cây cảnh và đảm bảo vệ sinh các vị trí này;

           - Thực hiện các thủ tục hành chính xin cấp các loại giấy phép hoạt động theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đầu tư quản lý dự án của EVNHPCSONGBAHA;

           - Định hướng công tác thông tin, truyền thông, quảng bá thương hiệu, truyền thống và tuyên truyền văn hóa doanh nghiệp; tổ chức thực hiện và chỉ đạo sự phối hợp thống nhất giữa EVNHPCSONGBAHA;

           - Đầu mối theo dõi, tiếp nhận và xử lý, trao đổi thông tin với các phương tiện thông tin truyền thông đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình, internet…); tham mưu cho Chủ tịch và Tổng giám đốc về tổ chức họp báo, nội dung trả lời phỏng vấn, phát ngôn trước công luận. Đầu mối tổng hợp, soạn thảo và phát hành các thông cáo báo chí của EVNHPCSONGBAHA;

           - Phối hợp với các phương tiện thông tin truyền thông thực hiện tuyên truyền, phổ biến chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về hoạt động điện lực và các lĩnh vực hoạt động của EVNHPCSONGBAHA. Đầu mối tổ chức các chương trình, sự kiện truyền thông của EVNHPCSONGBAHA;

           - Thiết lập và duy trì các mối quan hệ với các cơ quan quản lý báo chí, các cơ quan thông tin truyền thông;

           - Quản lý và định hướng nội dung trên website, các ấn phẩm thông tin khác của EVNHPCSONGBAHA và của các đơn vị Phòng ban EVNHPCSONGBAHA;

           - Cập nhật, bảo tồn, quảng bá các giá trị truyền thống của EVNHPCSONGBAHA;

           - Xây dựng chương trình tuyên truyền, quảng bá phát triển thương hiệu của EVNHPCSONGBAHA, kiểm tra và hướng dẫn thực hiện thống nhất giữa EVNHPCSONGBAHA với các đơn vị Phòng ban;

           - Xây dựng chương trình tuyên truyền, quảng bá văn hóa doanh nghiệp của EVNHPCSONGBAHA, kiểm tra và hướng dẫn thực hiện thống nhất giữa EVNHPCSONGBAHA với các đơn vị Phòng ban;

           - Tham gia, tổ chức các sự kiện của EVNHPCSONGBAHA;

           - Thu thập các thông tin chuyên ngành về các hoạt động của các tổ chức kinh tế nước ngoài, khảo sát năng lực và kinh nghiệm của đối tác, giúp EVNHPCSONGBAHA phân tích, đánh giá, lựa chọn đối tác, giải quyết các công việc liên quan với bên đối tác khi ký kết biên bản ghi nhớ hoặc thỏa thuận hợp tác với đối tác nước ngoài (các Phòng ban tham gia: KHVT, TCLĐ, TCKT, KT...);

           - Theo dõi, tổng hợp tình hình hợp tác đầu tư, sản xuất, kinh doanh với các đối tác nước ngoài để báo cáo Lãnh đạo EVNHPCSONGBAHA theo định kỳ và đề xuất các giải pháp cần thiết;

           - Tìm kiếm, khảo sát và xúc tiến cơ hội đầu tư ra nước ngoài;

           - Xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác với đối tác nước ngoài trên cơ sở chiến lược hợp tác quốc tế của EVNHPCSONGBAHA. Định hướng công tác đối ngoại của EVNHPCSONGBAHA;

           - Tổ chức hội nghị, hội thảo chuyên đề trong nước của EVNHPCSONGBAHA với các tổ chức nước ngoài; làm đầu mối đề xuất và tham gia hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước;

           - Giải quyết các thủ tục hộ chiếu, visa cho các đoàn đi công tác nước ngoài của cơ quan EVNHPCSONGBAHA; tổ chức thu xếp thủ tục và chương trình đi công tác nước ngoài của lãnh đạo EVNHPCSONGBAHA; hỗ trợ thủ tục visa cho các đoàn nước ngoài vào làm việc với EVNHPCSONGBAHA trong các chương trình/dự án đã thỏa thuận;

           - Lập lịch công tác và cùng các Phòng ban liên quan chuẩn bị nội dung làm việc với các đoàn khách nước ngoài, đón tiếp và tham gia làm việc;

           - Tổ chức biên soạn ấn phẩm ngoại ngữ: Báo cáo thường niên, giới thiệu EVNHPCSONGBAHA, tiếp xúc với cơ quan truyền thông quốc tế;

           - Khám sức khỏe định kỳ hàng năm, quản lý bệnh nghề nghiệp của người lao động, phòng chống dịch bệnh, quản lý công tác chăm sóc sức khỏe người lao động, vệ sinh lao động trong cơ quan Công ty;

           - Thường xuyên kiện toàn bộ máy, xây dựng đội ngũ chuyên viên trong văn phòng, từng bước hiện đại hóa công tác hành chính văn phòng, chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ văn phòng cho các văn phòng cấp dưới hoặc các ban chuyên môn khi cần thiết.

SBH là công ty cổ phần có tư cách pháp nhân phù hợp với pháp luật hiện hành của Việt Nam, có vốn điều lệ 1.280.000.000.000 đồng (một nghìn hai trăm tám mươi tỷ đồng), được chia thành 128.000.000 (một trăm hai mươi tám triệu) cổ phần phổ thông  với mệnh giá là 10.000 đồng/cổ phần. Các cổ đông sáng lập của SBH nắm giữ số Cp tương ứng: EVN: 107.360.000 cổ phần; PC2: 6.400.000 cổ phần; PC3: 6.400.000 cổ phần và các cổ đông khác: Công ty TNHH MTV Điện lực Đồng Nai: 2.560.000 cổ phần; Công ty Thủy điện Đa Nhim-Hàm Thuận-Đa Mi: 1.280.000 cổ phần; Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực: 1.280.000 cổ phần; ngoài ra còn có các cổ phần do cổ đông là thể nhân nắm giữ.

SBH đã đăng ký hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh: Quản lý đầu tư công trình thủy điện Sông Ba Hạ; Sản xuất và kinh doanh điện năng; Đầu tư và quản lý các dự án nguồn điện; Tư vấn giám sát thi công các công trình điện; Vận hành và bảo dưỡng các nhà máy điện và trạm biến áp; Thí nghiệm thiết bị điện, cơ, lý hoá cho các công trình, các khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong khu vực; Kinh doanh vật tư - thiết bị cho các công trình điện; Kinh doanh bất động sản; Kinh doanh du lịch và các dịch vụ kèm theo và các lĩnh vực kinh doanh khác.

Hiện nay, SBH đang thực hiện quản lý đầu tư xây dựng công trình thủy điện Sông Ba Hạ. Thuỷ điện sông Ba Hạ nằm trên sông Ba (thuộc hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai), có tổng mức đầu tư trên 4.000 tỷ đồng, công suất lắp máy 220 MW. Khi đi vào hoạt động, nhà máy dự kiến sẽ cung cung cấp sản lượng điện trung bình 825 triệu kWh/năm. Công trình được khởi công ngày 18.4.2004, dự kiến chạy tổ máy số 1, số 2 vào cuối quí 3, đầu quí 4 năm 2008.

Đại hội đã thảo luận xây dựng và thông qua Điều lệ họat động của Công ty CP thủy điện Sông Ba Hạ với 100% số cổ đông nhất trí biểu quyết. Đại hội cũng đã bầu Hội đồng Quản trị Công ty nhiệm kỳ 2007 – 2012 gồm 5 thành viên: Ô. Đặng Văn Tuần; Ô. Võ Văn Tri; Ô. Nguyễn Minh Khoa; Ô. Thái Văn Thắng; Ô. Nguyễn Hữu Phương; Ô. Đặng Văn Tuần được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT và ông Võ Văn Tri làm TGĐ Công ty.

Ban Kiểm soát Công ty được Đại hội bầu gồm 3 thành viên: Ô. Bùi Văn Nghiêm; Ô. Đoàn Ngọc Tuấn; Ô. Dương Minh Văn; Ô. Bùi Văn Nghiêm làm Trưởng Ban Kiểm soát.

Đại hội thành công tốt đẹp, kết thúc lúc 11h00 cùng ngày.